ỨNG DỤNG TẢO CHAETOCEROS MUELLERI TRONG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
17/11/2016 | 07:02 AM

Tảo Chaetoceros muelleri thuộc nhóm tảo nhân thực có hệ lưới nội chất, có cấu tạo đơn bào sống đơn độc hay thành tập đoàn dạng chuỗi, có kích thước 5-9 µm. Tế bào tảo hình chữ nhật, vuông hoặc hơi tròn, có lông gai ở các góc tế bào, có màu nâu vàng và có nhân lưỡng bội. Mặt vỏ tế bào hình bầu dục, gần tròn hơi lồi lên. Mặt vòng vỏ rộng, hình chữ nhật hoặc gần vuông. Lông gai nhỏ, dài và thẳng mọc ngay mép mặt vỏ và vươn ra gần song song với mặt phẳng vỏ. Mỗi tế bào có một thể sắc tố hình hạt hoặc hình tròn. Chaetoceros muelleri thường sinh sản vô tính hay phân đôi.

Tảo Chaetoceros muelleri chứa hàm lượng EPA cao được nuôi để làm thức ăn cho luân trùng, ấu trùng hai mảnh vỏ, ấu trùng tôm và cá. Ngoài ra, việc sử dụng tảo trong nuôi luân trùng cũng như ấu trùng một số đối tượng như: tôm, cua, điệp quạt, điệp seo, bào ngư, trai ngọc, ốc hương, tu hài, sò huyết, hải sâm… còn có tác dụng tạo môi trường nước xanh, điều hòa các khí hòa tan, cân bằng độ đục cần thiết và ổn định pH của môi trường nuôi.

Năm 2015, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Nông nghiệp Công nghệ cao đã thực hiện nghiên cứu Xây dựng quy trình nhân nuôi tảo Chaetoceros muelleri bản địa nhằm phục vụ nuôi trồng thủy sản. Nghiên cứu đã chứng minh tảo Chaetoceros muelleri giàu chất khoáng đa lượng và vi lượng, hàm lượng protein tổng số và hàm lượng lipid tổng số lần lượt chiếm 37,85%, 6,37% trọng lượng khô và hàm lượng acid eicosapentaenoic cao, chiếm 12,49% tổng số acid béo. Tảo Chaetoceros muelleri sinh trưởng tốt nhất trên môi trường Wanle có pH 8, độ mặn 25‰, mật độ tế bào ban đầu là 106 tế bào/mL với điều kiện nuôi trồng ở nhiệt độ 25 ± 2°C, cường độ ánh sáng 5000 ± 500 lux và chu kì sáng: tối là 12:12. Tảo Chaetoceros muelleri được nhân ra các thể tích nuôi lớn dần từ 250 mL, 2 L, 5 L đến 20 L tương ứng với mật độ tế bào cao nhất và trọng lượng khô là 6,28 x 106 tế bào/mL, 3,70 mg/mL sau 5 ngày nuôi cấy; 7,35 x 106 tế bào/mL, 4,84 mg/mL sau 4 ngày nuôi cấy; 6,87 x 106 tế bào/mL, 4,07 mg/mL sau 3 ngày nuôi cấy và 5,49 x 106 tế bào/mL, 3,37 mg/mL sau 3 ngày nuôi cấy. 

Tảo Chaetoceros muelleri

(a) dưới kính hiển vi quang học với độ phóng đại 400 lần

 (b) dưới kính hiển vi điện tử quét (SEM) với độ phóng đại 5000 lần

 

Tin tức khác