KỸ THUẬT TRỒNG RAU AN TOÀN
05/12/2016 | 09:06 AM

1. Khái niệm về rau an toàn

1.1 Tiêu chuẩn rau an toàn

a. Sạch, hấp dẫn về hình thức:

Tươi, sạch bụi bẩn, tập chất. Thu đúng độ chín – khi có chất lượng cao nhất, không có triệu chứng bệnh. Có bao bì vệ sinh hấp dẫn.

b. Sạch, an toàn về chất lượng:

Khi sản phẩm rau không chứa các dư lượng dưới đây vượt ngưỡng cho phép tiêu chuẩn vệ sinh y tế:

- Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật.

- Dư lượng Nitrat.

- Dư lượng kim loại nặng.

- Vi sinh vật gây hại.

1.2 Nguyên nhân gây ô nhiễm trên rau

a. Ô nhiễm do hoá chất bảo vệ thực vật:

Rau bao gồm nhiều chủng loại cây trồng, do vậy các chủng loại sâu hại cũng rất phong phú đa dạng, đó cũng là nguyên nhân làm cho rau bị nhiều loại côn trùng và bệnh hại, thông thường sâu bệnh làm giảm năng suất từ 10-40%, có khi mất trắng 100% do dịch bệnh. Biện pháp sử dụng thuốc bảo vệ thực vật là cần thiết và không tránh khỏi. Khi phun thuốc trừ sâu, bệnh, cỏ dại… thuốc sẽ tạo thành một lớp mỏng trên bề mặt lá, hoa, quả, thân cây, mặt đất, mặt nước và lớp chất lắng gọi là dư lượng ban đầu của thuốc. Hiện nay ở Việt nam đã và đang sử dụng hàng trăm loại hoá chất bảo vệ thực vật (theo Viện Bảo vệ thực vật (1998) có khoảng 270 loại thuốc trừ sâu, 216 loại thuốc trừ bệnh, 160 loại thuốc diệt cỏ, 12 loại thuốc trừ chuột và 26 loại thuốc kích thích sinh trưởng). Tuy nhiên theo thói quen hoặc sợ rủi ro trong sản xuất và sự thiếu hiểu biết về mức độ hại của hoá chất bảo vệ thực vật nên người sản xuất rau chỉ sử dụng một số loại thuốc quen thuộc đó thường là những loại thuốc có độ độc cao đã bị hạn chế hoặc cấm sử dụng như Monitor, Wofatox… ở đây còn nguyên nhân nữa là các loại thuốc trên giá rẻ, có phổ tác dụng diệt sâu rộng và hiệu quả diệt sâu cao. Mặt khác lượng thuốc hoá học dùng cho rau quá nhiều, người sản xuất thường sử dụng quá nồng độ, liều lượng và thời gian giữa các lần sử dụng quá ngắn, đồng thời không tuân thủ đúng thời gian cách ly an toàn trước khi thu hái sản phẩm đã làm tồn dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật quá ngưỡng cho phép có trên rau.

Bảng 1: Dư thuốc bảo vệ thực vật (mg/kg sản phẩm)

Ghi chú:  Các từ viết tắt trong bảng.

- RL: Rau ăn lá.

- RQ: Rau ăn quả.

- G, H: Thuốc dạng hạt.

- WP, BTN: Thuốc bột thấm nước (còn gọi là bột hòa tạn nước).

- EC, ND: Thuốc sữa (còn gọi là thuốc nhũ dầu).

- SC, AS: Thuốc dịch huyền phù.

- SL, DD: Thuốc dung dịch.

b. Hàm lượng Nitrat (NO3-) quá ngưỡng cho phép:

Ảnh hưởng của phân hoá học, nhất là phân đạm tới tích luỹ nitrat trong rau cũng là nguyên nhân làm cho rau được xem là không sạch.

Nitrat được hấp thụ vào cơ thể ở mức bình thường không gây độc, nó chỉ có hại khi vượt tiêu chuẩn cho phép, trong hệ tiêu hoá của trẻ em, NO3- bị khử thành Nitrit (NO2), Nitrit là một trong những chất chuyển biến Oxyhaemoglobin (chất vận chuyển oxy trong máu) thành chất không hoạt động gọi là Methaemoglobin. Ở mức độ cao sẽ xuất hiện triệu chứng bệnh, làm giảm hô hấp của tế bào, gây ảnh hưởng tới hoạt động của tuyến giáp, gây đột biến và phát triển các khối u. Trong cơ thể con người, ở nồng độ cao Nitrit có thể gây phản ứng với amin thành chất gây ung thư gọi là Nitroamin, các hợp chất này được đưa vào cơ thể một cách trực tiếp hay gián tiếp do Nitroamin được tổng hợp trong cơ thể tạo ra sau khi ăn. Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) hàm lượng Nitrat trong rau không được vượt quá 300 mg/kg tươi.

Bảng 2: Hàm lượng Nitrat (mg/kg sản phẩm) (Theo tiêu chuẩn của WHO)

c. Tồn dư kim loại nặng trong sản phẩm rau:

Các kim loại nặng có sẵn trong đất trong đất trồng hay theo các nguồn nước thải thải từ thành phố, khu công nghiệp được cây hấp thụ và tích luỹ dần vào sản phẩm trong quá trình sinh trưởng. Hàm lượng các chất Cadimi (Cd), Chì (Pb), Kẽm (Zn), Thiếc (Sn), Asen (As), Aflatoxin, Putulin… được phép có trong rau xanh với lượng rất thấp (0,03-10 mg/kg). Song thực tế nhiều loại rau ăn, nhất là rau ăn lá được tưới nước có nhiễm chất thải công nghiệp có dư kim loại nặng, nhất là cadimi. Ngoài ra việc bón nhiều lân cũng làm tăng hàm lượng kim loại nặng (1 tấn supe lân chứa 50-170g). Những sản phẩm này không chỉ gây hại khi sử dụng tươi mà còn ảnh hưởng lớn trong công nghiệp đồ hộp. Ngoài ra nguồn nước thải tưới cho cây còn chứa nhiều NO3-, Phosphat, thuốc trừ sâu và các chất độc khác.

Bảng 3: Kim loại nặng (mg/kg sản phẩm)

d. Vi sinh vật gây hại trong rau:

Một số vùng rau ở nước ta tập quán dùng phân tươi tưới cho cây cũng là một hình thức truyền tải các loại trứng giun sán và các vị sinh vật gây bệnh khác (E.coli, Salmonella…). Khi sử dụng rau gia vị: Rau thơm và rau ăn sống là hình thức truyền tải trứng giun sán và các vi sinh vật gây bệnh đường ruột vào cơ thể người.

Bảng 4: Ngưỡng vi sinh vật gây bệnh trong rau tươi

2. Những vấn đề chung trong tổ chức sản xuất rau

2.1 Quy hoạch vườn rau

Phải phù hợp với quy hoạch tổng thể chung của đơn vị.

2.1.1. Vị trí vườn rau

- Cách xa khu vực nhà ở, sinh hoạt, cuối hướng gió chính.

- Cách ly với khu vực có chất thải sinh hoạt và công nghiệp, bệnh viện.

- Cách ly khu vực tồn dư kim loại nặng và hoá chất độc hại.

- Đảm bảo ánh sáng trực xạ chiếu sáng 8-10 giờ/ngày.

- Gần nguồn nước tưới (sông, suối, ao, hồ… nước lưu thông).

- Thuận tiện khai thác, vận chuyển, ngâm ủ phân bón.

- Thuận tiện trong giao thông, vận chuyển sản phẩm.

2.1.2. Chọn đất

            - Chọn đất dễ thoát nước, có mực nước ngầm thấp, không bị ngập úng.

            - Đất gần nguồn nước, chủ động tưới tiêu.

            - Đất có thành phần cơ giới nhẹ từ đất cát pha đến đất thịt trung bình.

+ Cát: Không có kết cấu, không giữ được nước, dinh dưỡng.

+ Đất cát pha (Đất cát bạc màu vùng trung du): Kết cấu kém bền vững, nghèo dinh dưỡng.

+ Đất thịt nhẹ (Đất phù sa được bồi đắp hàng năm): Tơi xốp thoáng khí, giàu dinh dưỡng.

+ Đất thịt trung bình (Đất phù sa cổ và đất đỏ vàng): Kết cấu bền vững, giữ nước, dinh dưỡng tốt.

+ Đất thịt nặng (Đất sét): Kết cấu rất bền vững,  không thoáng khí.

            - Đất có tầng canh tác dày từ 20 - 30 cm trở lên.

            - Đất có độ PH trung bình từ 5 - 7, nếu PH thấp phải bón vôi để cải tạo.

            Ngoài biện pháp canh tác truyền thồng trồng trên đất, hiện nay còn có các biện pháp canh tác áp dụng công nghệ tiên tiến như: trồng trên giá thể xơ dừa, trấu hun… và trồng trong dung dịch dinh dưỡng.

2.2 Thiết kế

- Vườn rau phải được chia thành ô, thành thửa phù hợp, thuận tiện cho canh tác, giữ được nước, được phân và chống sói mòn, rửa trôi.

- Bố trí bể ngâm ủ phân chuồng (nên thiết kế 2 ngăn, nửa chìm, nửa nổi để thuận tiện sử dụng), bể trữ nước tưới, kết hợp ao hồ dự trữ nước đảm bảo đủ nước tưới, nhất là vào mùa khô.

- Bố trí hệ thống tưới đến từng ô, từng thửa phải thuận tiện để có thể chủ động trong mọi điều kiện (tưới thủ công, tưới bằng máy), chủ động trong mọi điều kiện thời tiết (nắng nóng, khô hạn, mưa bão). Hệ thống tiêu phải đảm bảo vừa tiêu được nước mặt và thoát nước ngầm nhanh chóng.

- Khu vực có địa hình kém bằng phẳng, địa chất kém vững chắc cần xây dựng tường bao chống sạt lở, xói mòn cho vườn rau.

- Bố trí hệ thống giao thông nội đồng không ảnh hưởng tới tưới tiêu và chăm sóc cho rau, đồng thời phải tiện đi lại, vận chuyển (việc chia ô, thửa, bố trí hệ thống tưới tiêu, hệ thống giao thông phải phù hợp với quy mô cánh đồng rau, tránh lãng phí nhưng phải đảm bảo thuận tiện, đáp ứng được yêu cầu của nghề trồng rau.

2.3 Xác định thời vụ trồng

- Mỗi loại rau yêu cầu nhiệt độ và ánh sáng trong quá trình sinh trưởng, phát triển khác nhau nên thời vụ gieo trồng cũng khác nhau. Đảm bảo thời vụ là đảm bảo chế độ nhiệt, ánh sáng thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của từng loại rau.

- Gắn liền với nhiệt độ là ánh sáng. Ánh sáng mặt trời được coi là nguồn năng lượng duy nhất và vô tận để cây xanh quang hợp, biến đổi các chất vô cơ, nước, khí cacbonic trong đất và không khí thành những chất hữu cơ tích vào các bộ phận của cây để phục vụ cho người và động vật.

- Do đó việc bố trí mùa vụ cũng như sắp xếp các cây trồng xen, trồng gối cần tạo được chế độ ánh sáng thích hợp để cây rau sinh trưởng. Có thể tạo ánh sáng nhân tạo bằng hệ thoonga đèn huỳnh quang để bổ sung ánh sáng trong những vườn rau có mái che.

- Ở Việt Nam có 2 thời vụ rau điển hình là:

+ Rau vụ Đông (mùa khô): Đặc điểm thời tiết có nền nhiệt độ thấp, ẩm độ thấp, ít mưa, thời gian chiếu sáng ngắn (8-10 giờ/ngày), cường độ ánh sáng yếu.

Thích hợp với các loại rau có nguồn gốc ôn đới, trong quá trình sinh trưởng, phát triển cần nền nhiệt độ thấp, thời gian chiếu sáng ngắn, cường độ ánh sáng yếu như: Bắp cải, su hào, cải các loại, cải cúc, rau cần, hành, tỏi, bầu, bí, su su, đậu cô ve, đậu vàng, cải nhớt, cải xoong, rau diếp, xà lách...

+ Rau vụ Hè (mùa mưa): Đặc điểm thời tiết có nền nhiệt độ cao, ẩm độ cao, mưa nhiều, thời gian chiếu sáng dài (10-12 giờ/ngày), cường độ ánh sáng mạnh.

Thích hợp với các loại rau có nguồn gốc nhiệt đới, trong quá trình sinh trưởng, phát triển cần nền nhiệt độ cao, thời gian chiếu sáng dài, cường độ ánh sáng mạnh như: Rau muống, rau dền, mồng tơi, rau đay, rau ngót, đậu đũa, mướp, cà tím, dưa chuột, củ đậu, củ mỡ...

+ Giáp vụ rau: Là thời gian chuyển giao giữa 2 vụ (Vụ Hè-Đông, Đông-Hè ở miền Bắc và mùa Khô-Mưa, Mưa-Khô ở miền Nam.

Thời tiết thay đổi bất thường nên cây sinh trưởng phát triển kém, đồng thời do sự biến thiên của nền nhiệt độ từ nóng sang lạnh (hoặc từ lạnh sang nóng) làm sâu bệnh dễ phát sinh phá hại gây thiệt hại lớn đến năng suất, chất lượng các loại rau.

Việc tự túc rau giáp vụ trong các đơn vị hiện nay còn có những mặt hạn chế, cơ cấu rau chưa đa dạng, năng suất còn thấp, chất lượng chưa cao và một số ít đơn vị chưa tự túc đủ rau trong thời gian giáp vụ. 

Tin tức khác